|
Kiều Miên Nhìn chiếc kim đồng hồ đều đặn quay tròn, Cát An càng nôn nao. Không lâu nữa đây, chiếc máy bay đưa mẹ từ Seoul sẽ hạ cánh. Mẹ về quê hương, thấm thoát 3 tuần trôi mau. Nàng nhớ mẹ, nhưng nhớ và thích nhất vẫn là câu, "Mẹ mua cho con nhiều quà lắm" khiến nàng thấy sung sướng như thuở mình còn bé tí mỗi khi được quà. Tình thương và sự bảo bọc của mẹ luôn tạo cho nàng cảm giác mình bé bỏng. Với mẹ, nàng có thể nhỏng nhẽo đủ điều, được nuông chiều đủ điều. Ba tuần nay đương nhiên nàng nhớ mẹ nhiều, nhưng ngoài sự nhớ nhung ấy, nàng mong mẹ về để biết tin tức của Chi Lụ từ mẹ. Nàng không thể nhớ chính xác từ khi nào Chi Lụ hiện diện trong nhịp sống của gia đình nàng. Cuối thập niên bảy mươi, khi dọn nhà từ Bà Chiểu qua Đa Kao không lâu, nàng đã thấy Chi Lụ quanh quẩn giúp đỡ mẹ đủ việc. Chi Lụ giúp mẹ làm việt lặt vặt, từ quét nhà, lau nhà, đến giặt giũ quần áo. Hàng xóm láng giền gọi Chi Lụ là người làm thuê hay người ở. Chỉ khác với người ở xưa là Chi Lụ không ngủ lại nhà nàng. Làm xong việc, Chi Lụ thả bộ về vì đoạn đường không bao xa. Chi Lụ sống với má trong căn nhà lụp xụp nằm khuất sâu trong con hẻm nhỏ. Nói là với má, chứ thật ra còn có cả anh em, cháu chắt chen chút nhau trong ngôi nhà chật hẹp. Vì Chi Lụ là người duy nhất chưa lập gia đình, phòng ngủ của Chi Lụ là chiếc ghế bố. Tối đến, Chi Lụ chỉ cần mở nó ra, đặt trong một xó nào đó của phòng khách và ngả lưng ngủ. Sáng ra xếp nó lại, dựa vào góc phòng. Mỗi ngày khi tờ mờ sáng, Chi Lụ thả bộ từ Nguyễn Phi Khanh, băng qua đại lộ Đinh Tiên Hoàn là đến nhà Cát An. Việc đầu tiên trong ngày của Chi Lụ là giúp bà Ngoại pha cà phê. Ba mẹ có tiệm bán cà phê và nước sinh tố. Buổi sáng là giờ cao điểm vì khách tới sớm uống cà phê trước khi đi làm. Chi Lụ cùng Ngoại sốt sắng pha cà phê thơm và nóng, sẳn sàng phục vụ khách hàng. Như thông lệ, khi số lượng khách thưa dần, Chi Lụ đi chợ để bà Ngoại nấu cơm. - Bà... bà... Ngoại,... Thím... thím Ba hỏi... hôm nay ăn... ăn... gì, con... đi... đi chợ mua... Biết Chi Lụ ăn nói khó khăn, cho nên mỗi lần gặp Chi Lụ cố phát âm từng chữ, mẹ luôn cứu bồ, diễn đạt dùm ý tưởng Chi Lụ muốn nói. - Hôm nay má thích ăn gì hay muốn nấu món gì, con đưa tiền cho Chi nó đi chợ sớm. Đi trễ quá người mua hết thức ăn tươi. Vào những năm đó miếng ăn bươn chải thật vất vả. Có tiền chưa chắc mua được thịt cá ngon. Đi chợ phải đi sớm để giành thực phẩm tươi. Bà Ngoại ngày trước là vợ của ông chủ tiệm dệt lớn, góa bụa khi rất trẻ. Mẹ là con một, là vợ của người con thứ hai của ông chủ nhà hàng bán cơm Tây danh tiếng. Sau chiến tranh, cuộc đời của hai người đàn bà thay đổi theo. Họ lanh lẹ hơn để kiếm ăn, nuôi gia đình. Ở thời đó, đàn ông, nhất là đàn ông đã từng làm việc cho chế độ cũ, không có chỗ đứng trong xã hội vì cái lý lịch đen "ngụy quyền." Ngôi nhà này muốn đứng vững, chỉ còn biết trông cậy vào hai người đàn bà. Hai đôi bàn tay lam lũ cũng vì thế chai sần đi. Một tay bà Ngoại lau những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán do khói bốc ra từ hàng loạt chiêc lượt cà phê, một tay đưa chiếc giỏ đệm cho Chi Lụ. Ngoại nói với mẹ, mà cũng như với Chi Lụ. - Con biểu Chi mua cho má con cá trê với miếng thịt ba rọi với trái bầu. Hôm nay má nấu canh bầu cá trê ăn với thịt ba rọi kho tiêu ăn. Chi Lụ cùng mẹ bước lên nhà trên. Mẹ nhẩm tính, đưa tiền cho Chi Lụ đi chợ. Vậy mà mua đủ mọi thứ cần thiết cho bữa cơm hàng ngày, tiền đi chợ lúc nào cũng còn dư. Nàng nghe nói người Tàu họ hiền, bộc trực, và sống có chữ tín. Càng lớn, nàng càng tin vào lời của mẹ. Nhớ ngày nào nàng là cô học trò ê a, bây giờ nàng trở thành một nữ sinh trung học lớp 10. Chi Lụ vẫn trung thành với gia đình nàng. Từ một thiếu phụ ở lứa tuổi 30, mái tóc Chi Lụ bây giờ điểm đây đó sợi bạc. Gần 10 năm nay, ngày nào cũng như ngày nấy, Chi Lụ một mực siêng năng. Xong việc này, Chi Lụ bắt qua việc khác. Một ngày dài như vậy còn không muốn đủ thời gian làm hết việc. Rất ít khi nàng nghe Chi Lụ than phiền việc nhiều. Chỉ có một lần duy nhất, Chi Lụ than với Ba. - Chú... chú... Ba nói... nói... với với... mấy đứa nhỏ... mặc ít... ít đồ lại. Con giặc mệt quá... Thật vậy! Có dịp ngồi coi Chi Lụ giặt đồ mới thấm thía chữ "mệt" Chi Lụ thốt ra. Mỗi ngày Chi Lụ đi từ phòng của Cát An đến phòng của ba mẹ, rồi của hai ông anh và của con bé út gom đồ để giặt. Một thau đồ đầy ắp, Chi Lụ khệ nệ khiêng ra cạnh vòi nước. Đôi tay gầy gộc, mười ngón tay ốm yếu, cong queo cố bám chặt vào từng cái quần cái áo, vò cho thật sạch. Chi Lụ tránh dùng bàn chải vì sợ làm rách quần áo. Chỉ khi nào chiếc quần vải dầy lại lấm quá nhiều với dơ, lúc ấy Chi Lụ mới dùng đến bàn chải. Chi Lụ thường canh chừng khi xả nước quần áo xong, cũng là lúc mặt trời lên cao nhất để phơi đồ. Chỉ giặt đồ thôi ngốn mất ba tiếng đồng hồ dài. Có hôm nắng gắt, Chi Lụ vẫn cứ ngồi dưới sức nóng cao độ, gồng đôi bàn tay lên để vò quần áo, vắt nước thật khô. Mỗi lần Chi Lụ càng gồng đôi tay, cả thân người của Chi Lụ cong quẹo theo. Cả cái miệng của Chi Lụ cũng lệch dạng, đưa đôi môi méo qua một bên, đôi mắt nhương nhướng theo sức gồng. Khi còn nhỏ, cuối tuần Cát An thường ngồi xem Chi Lụ giặt đồ, sẳn dịp nàng có thể ngồi đó vọc nước với xà phòng cho thỏa thích. Chi Lụ thường biểu nàng vào nhà cho mát vì ngồi dưới nắng dễ bị bệnh. Khi còn bé, nàng chẳng biết điệu là gì. Quá lắm một ngày mặc chừng hai bộ đồ là cùng. Một bộ đi học, một bộ mặc ở nhà. Lớn lên, quần này áo nọ, cứ bận một chút rồi nàng thảy vô thau, ỷ y có Chi Lụ giặt hết. Lâu dần thành một thói hư mà không hay. Quần áo của nàng, cộng với quần áo của hai ông anh, Chi Lụ giặt không xuể cũng phải. Sau khi Chi Lụ than phiền, ba rầy Cát An một cách tế nhị: - Con mặc đồ một ngày quá lắm hai bộ thôi. Con bỏ nhiều quá bắt con Chi nó giặt mệt tội nghiệp nó. Tay chân nó có tật. Hình ảnh đôi bàn tay yếu ớt vò từng chiếc áo, sự khổ nhọc ẩn lên khuôn mặt của Chị Lụ trở về trong tâm trí nàng. Nàng biết lỗi và trách mình. Sau hôm đó, mỗi lần thay một bồ dơ, Cát An thường nghĩ đến Chi Lụ. Nàng cố gắng giữ quần áo sạch để còn mặc lại, nhất là đồ ngủ, hy vọng sẽ nhẹ bớt phần nào công việc cho Chi Lụ. Như thành cái lệ, phơi đồ xong là tới giờ cơm trưa. Trong lúc cả nhà quay quần ăn, Chi Lụ có nhiệm lên nhà trước coi tiệm. Mọi người ăn xong mới đến phiên Chi Lụ ăn. Ngoại thường bới sẳn một tô cơm đầy cho Chi Lụ. Trên mặt cơm trắng, có chút cá thịt, chút rau luộc. Đôi khi nhìn vào tô cơm Ngoại bới sẵn, nàng thấy trong đó có rau muống luột và hai cục chao. Nàng lén Ngoại chôn dưới đáy tô một cái trứng kho. Khi chiếc muỗng khơi trúng quả trứng, Chi Lụ vừa ăn vừa giấu, vì biết đó là quả trứng do Cát An giấu Ngoại cho thêm.
Cát An hiểu không phải Ngoại xấu. Chỉ là là cuộc sống khó khăn ép Ngoại làm như vậy thôi. Cho dù cơm đạm bạc cách mấy, Chi Lụ ăn ngấu nghiến, giống như có cơm ăn là vui lắm rồi. Chi Lụ thường lủi thủi ở sân sau ngồi ăn ngấu nghiến. Chắc Chi Lụ đói vì cả buổi sáng làm việc quá sức. Không hiểu sao, mỗi lần bắt gặp cảnh Chi Lụ lặng lẽ ngồi ăn một mình, nàng thấy thương Chi Lụ. Tuy đôi lúc Ngoại không vừa lòng cho lắm vì theo Ngoại, Chi Lụ ho hoài. Bà Ngoại sợ Chi Lụ bị bệnh lao nên không muốn nàng đến gần Chi Lụ nhiều. Nhưng nàng thường lén Ngoại ngồi kế nói chuyện vừa coi Chi Lụ ăn, mong Chi Lụ bớt buồn. Chẳng biết Chi Lụ có buồn tủi hay không vì không khi nào thấy Chi Lụ lộ vẻ buồn gì cả. Ăn xong, Chi Lụ rửa chén, quét nhà, lau nhà, đợi đồ khô lấy vào ủi/. Hai chữ "lau nhà" ngắn ngủi, nhưng đó là công việc cực nhất trong ngày. Chi Lụ hứng nước vào chiếc thau và lau bằng tay. Ở thời buổi ngặt nghèo, lấy đâu máy móc để dùng. Chi Lụ trong tư thế bò, lại hì hục dùng mười ngón tay yếu ớt chà, đẩy chiếc khăn trên sàn. Từ nhà trên xuống đến phòng ngủ, tất cả ba gian lớn. Chẳng mấy chốc sàn gạch lấm lem trở nên sáng loáng trông mát mắt. Trừ phi con bé út đi chơi về khi sàn nhà chưa kịp khô ráo. Nó còn nhỏ nên vô ý, cứ mặc sức lê đôi dép bụi bặm khắp sàn nhà mới lau. Những lúc như vậy, gương mặt và ánh mắt của Chi Lụ thoáng hiện nét buồn, nhưng Chi Lụ chỉ im lặng. Hoàn tất công việc cuối ngày là ủi đồ và xếp đồ, Chi Lụ ra về thì trời cũng vừa sụp tối. Ngoài buổi cơm trưa, một tháng Chi Lụ lãnh lương một lần. Chi Lụ đưa gần hết cho má. Má của Chi Lụ không ai xa lạ, lại chính là người làm thuê khi xưa cho ông Nội. Trước 1975, ngôi nhà nàng đang ở là của ông Nội. Đó là một căn nhà đôi. Một bên để ở, một bên là nhà hàng bán đồ ăn Tây danh tiếng. Sau 1975 không lâu, ông Nội mất, ba đưa gia đình về ở và mở tiệm bán cà phê buôn bán qua ngày. Má của Chi Lụ khi xưa phụ bếp cho nhà hàng. Nàng cũng không biết tên của bác ấy là gì. Nghe ba mẹ gọi bác là "A Xẩm". Nàng gặp bác, quen miệng bắt chước ba mẹ gọi bà là "Bà Xẩm". Gọi "A Xẩm" vì bác ấy là người Tàu. Cũng như cái tên Chi Lụ cũng vậy. Mẹ kể lại, khi mới dọn ra nhà ông Nội, A Xẩm dẫn Chi Lụ qua xin một việc làm cho con gái. - Cô Ba có việc gì cho con Chi nó làm. Tôi biết nó có tật, ăn nói khó khăn, tay chân xiêu vẹo, nhưng nó làm được mấy công việc nhà. Mẹ dịu dàng... - A Xẩm làm cho ba tôi ngày trước. Sẳn tôi dự tính mở tiệm cà phê, không có nhiều thời gian lo nhà cửa. Nếu A Xẩm cho con Chi phụ chuyện nhà lặt vặt thì qua làm. Xin được việc cho con, A Xẩm mừng rỡ: - Cám ơn cô Ba. Thời buổi này có việc làm là tốt rồi. Huống chi cô Ba chịu nhận con Chi, tôi thật biết ơn cô. Chi Lụ vô phước thật. Sanh ra mang trên mình đủ thức tật nguyền. Nói ngọng ngệu, cà lăm, tay chân co quắp, đi đứng khó khăn. Vậy mà con nít quanh nhà nàng không để Chi Lụ yên. Có lần chúng đem Chi Lụ ra phá, ghép đôi Chi Lụ với anh Lắm. Anh Lắm là người bà con xa của nhà kế bên. Anh Lắm cũng là người làm thuê cho gia đình bên ấy. Nguyên nhân bọn nhỏ đem Chi Lụ ra ghép đôi với anh Lắm, oái ăm cũng chỉ vì anh Lắm tay chân cũng co quắp, đi đứng khó khăn. Đỡ hơn Chi Lụ một chút là bệnh cà lăm của anh Lắm nhẹ hơn. Nghe bọn nhỏ chọc mình với anh Lắm, Chi Lụ không giận mà cười. Trong nụ cười như có một niềm vui ẩn trên đôi má thẹn thùng đỏ ửng. Từ đó về sau, nàng để ý thấy Chi Lụ không còn tự nhiên khi gặp anh Lắm. Thay vào đó là nét bẽn lẽn như thể người con gái lần đầu biết sự rung động của con tim. Anh Lắm la mấy đứa con nít. Nàng thừa hiểu anh Lắm chẳng có ý gì với Chi Lụ. Vì sâu trong đôi mắt ấy, Chi Lụ không đẹp, không trẻ, không có một điểm nào quyến rũ được anh Lắm. Có thể với tầm nhìn của người lành lặn mới đủ sức phán đoán ra ý nghĩ của anh Lắm. Nhưng Chi Lụ dường như không nhìn ra được. Cho nên xong việc ra về, Chi Lụ lúc nào cũng chải đầu gọn ghẽ hy vọng gieo ấn tượng tươm tất nếu chạm mặt anh Lắm. Anh Lắm có thằng cháu tên Liêm. Mấy đứa nhóc trong xóm gắn thêm cho nó chữ "le" đằng sau. Thằng Liêm Le là thằng quậy nhất. Vào cuối tuần, nó làm thủ lĩnh cho đám nhóc hơn đi phá tới cả xóm khác. Một hôm, nàng thấy Liêm Le với dáng điệu khả nghi. Nói sai mấy đứa nhóc chạy tới chạy lui tới nhà nàng thăm hỏi Chi Lụ về chưa. Đợi Chi Lụ rời khỏi nhà nàng, Liêm Le chặn đường Chi Lụ. Nó vừa nói vừa đưa cho Chi Lụ cái hộp nhỏ. - Bà Chi Lụ, anh Lắm nói tui đưa cái này cho bà. Anh Lắm tặng bà đó. Dù không rõ nguyên nhân tại sao anh Lắm tặng quà cho mình, Chi Lụ vẫn nhận cái hộp từ tay thằng Liêm Le, bỏ cái hộp cẩn thận túi áo. Khi Chi Lụ băng qua con đường, Liêm Le cùng đồng bọn cười hoan hỉ. Sáng hôm sau trong lúc nàng còn thiếp ngủ, nghe tiếng Chi Lụ vừa nói vừa khóc với mẹ như một đứa con nít. Cuộc đàm thoại có lẽ bắt đầu từ lâu, đến khi nàng tỉnh giấc lắng nghe thì đã vào giữa câu chuyện. - Thằng Liêm nó... nó... đưa cho con cái... cái... hộp. Nó nói... nói... anh Lắm cho con. Con về mở... mở... ra... Ở trong đó là... là... mấy cục... cục... bông gòn... ngấm... mùi... mùi... nước đái... với... với... cức... Nghe đến đâu, nàng tỉnh hẳn ngủ vì nổi giận. Cái đám nhỏ này thiệt quá đáng. Hết người phá, lựa ngay người tàn tật, đáng tuổi cô dì tụi nó phá. Định tung mền ra gặp xem Chi Lụ thế nào, đã nghe mẹ lên tiếng. - Chi đừng khóc nữa. Vô rửa mặt lau mặt cho khoẻ đi rồi để thím ba rầy tụi nó. Ba mẹ lập tức qua nhà kế bên gặp má của Liêm Le. Bà ta nghe xong rất phật lòng. Anh Lắm cũng không kìm được sự bực mình. Thằng Liêm Le bị đánh đòn te tua một phen. Từ đó Liêm Le không dám động tới Chi Lụ. Cũng từ đó Chi Lụ hết nuôi mộng anh Lắm thích mình. Chi Lụ trở lại với chính mình, chẳng cầu kỳ chải gở tóc trước khi đi về như một việc tốn thời gian. Cuối năm lớp 10, gia đình nàng xuất ngoại. Chi Lụ cùng Bà Xẩm ra tiễn, nhưng không đi theo xe ra phi trường. Hai mẹ con nhường ghế cho gia đình, thân nhân của gia đình nàng. Chi Lụ trốn ở dưới nhà bếp đứng khóc thút thít với bà Ngoại. Bà Ngoại vì lớn tuổi nên muốn ở lại, không đi cùng con cháu. Bà Ngoại mất cách đây năm năm. Và hơn hai mươi năm, từ khi Chi Lụ đặt chân vào gia đình nàng, nàng mới có thể trả ơn cho Chi Lụ. Trước khi mẹ về Việt Nam, nàng gởi mẹ trao lại Chi Lụ ít tiền ăn Tết. Nàng không quên nhắc mẹ chụp hình để xem Chi Lụ bây giờ thế nào. Chiếc phi cơ cuối cùng nhẹ nhàng chạm đường băng. Cả nhà nhốn nháo xem mẹ ở đâu. Trông dáng người đàn bà quen thuộc thấp thoáng trong đoàn hành khách, cả nhà mừng rỡ ôm chầm mẹ. Suốt quãng đường về, cả nhà tranh nhau hỏi mẹ đủ thứ chuyện. Nào là Sài Gòn bây giờ ra sao? Ngôi nhà cũ của mình bây giờ ai làm chủ? Chợ Đa Kao còn tấp nập không? Riêng nàng chỉ muốn hỏi mẹ, "Mẹ ơi, Chi Lụ bây giờ thế nào rồi? Chi Lụ còn ở chỗ cũ không? Chi Lụ bây giờ chắc cũng lớn tuổi tóc bạc đi nhiều phải không mẹ?" Xe về đến nhà, như hiểu ý con gái, mẹ lấy từ trong ví tay, trao cho nàng tấm hình. Đó là tấm hình của Chi Lụ. A Xẩm bảo Chi Lụ mất cách đây hai năm vì bệnh lao. Gương mặt của Chi Lụ trong tấm di ảnh xác xơ như nhánh cỏ vàng úa. Đôi mắt nàng nhoè đi. Mẹ chậm rãi lên tiếng: - Mẹ giao số tiền của con gởi chị Chi cho A Xẩm. Tội nghiệp, nhận ra mẹ, A Xẩm khóc nhiều. Thế đó, Chi Lụ không còn nữa. Một ngày cũng kể là muộn, nói chi bấy nhiêu năm trôi qua. Nàng nghe rõ tiếng lòng mình đang tự trách và dằn dặt thật nhiều. HẾT
|