Ðã lâu lắm rồi, tại một mảnh đất xa xôi, có đôi trẻ cất tiếng khóc chào đời từ hai thành phố khác nhau bên bờ Đông Hải.

Chúng bị bỏ vào hai cô nhi viện cách xa hàng trăm cây số. Tháng ngày trôi qua, bé trai được nhận nuôi. Sau cùng, bé gái cũng vậy. Mỗi đứa được sang Mỹ với gia đình mới. Và năm tháng nối tiếp.

Lớn lên, cả hai cùng bay về vùng đất xanh tươi nằm dọc những bờ sông, chung với nhiều người cùng cảnh ngộ mồ côi muốn về thăm quê cũ.

Họ đã vọng trông một điều gì đó. Một chỗ, một tên, một câu trả lời. Cô gái và chàng trai, Todd Adamson và Jennifer Arias, đã tìm thấy thứ họ không dự tính.

Tình yêu.

O O O


Ngày 12 tháng 8 năm 1970, một bé hài nhi bị bỏ vào cô nhi viện Linh Tâm tại thành phố Đà Nẳng. Mẹ nó chẳng nói tên gì. Người ta đoán cha nó là một người lính Mỹ.

Những nữ tu nhà thờ gọi bé là Trương Thắng và ghi vào sổ sách.

Vạn dặm cách đó, tại thành phố Warminster, bang Pennsylvania, bà Marilyn Adamson quyết định nhận con nuôi. Bấy giờ, nhận xin con nuôi từ nước ngoài quả hết sức hiếm hoi, và việc mang trẻ em từ Việt Nam, nơi quân đội Mỹ đang chinh chiến, chừng như chưa ai biết đến.

Nhưng được sự khích lệ từ một gia đình từ bang Colorado đã làm qua chuyện này, bà Adamson liền viết thư về cô nhi viện ở Việt Nam. Kèm theo hồi âm trong tháng Ba, có tấm hình một bé trai, thật sáng sủa bầu bĩnh, với đôi mắt to tròn nâu sẫm.

Mang đứa bé về quả chẳng dễ dàng chút nào.

"Ai muốn nhận nuôi," Nữ tu Marie Angela cho Adamson biết trước trong một lá thư viết khéo, "cần phải có tính kiên trì, lòng can đảm, và sự nhẫn nại bền bĩ lắm mới chờ đợi nổi."

Tháng Tư. Tháng Năm. Rồi tháng Sáu.

Adamson thư tới thượng nghị sĩ, bộ ngoại giao, và trại mồ côi. Bà cầu xin một đứa con thứ hai, một bé gái. Bà gửi quần áo, đồ chơi, và phim ảnh cho những vị nữ tu. Rồi bà hồi hộp mong đợi.

Bà biết là sẽ vô phương nhận được đứa bé nào nếu Việt Nam sụp đổ.

Tháng Bảy đưa đến một thư nữa. Bé trai bị sốt đã ba ngày rồi. Đôi chân nó yếu đuối. Adamson biết đó có thể là bệnh bại liệt.

Tháng Chín, có lá thư khác.

Đứa bé tỏ vẻ tật nguyền chắc chắn. Bà Adamson có ưa thích một đứa bé khác, khoẻ mạnh hơn chăng?

Không, bà hồi âm.

Tháng Mười. Mười Một. Mười Hai.

Tháng Giêng. Một tin phấn khởi.

Tháng Hai. Tháng Ba.

Cuối cùng, hai đứa bé được cuốn gói vào một chuyến bay đi New York. Vào ngày 21/4/72, Thắng, giờ được gọi là Todd, hạ cánh cùng em gái nuôi của nó, Lisa.

Cái ôm đầu tiên từ mẹ nó được thu lại trong một bức ảnh. Bà tóc vàng, mang kiếng mát, còn mình nó thì lốm đốm hột. Nó đã bị thủy đậu, nhiễm trùng, mụn nhọt, và bại liệt nữa. Nó cũng không đi, không nói được, ngoài vài tiếng Việt đòi ăn.

Vài năm kết tiếp tại Warminster, và sau đó ở bang Arizona, hai đứa bé lớn vùn vụt. Todd trải qua chứng kiết lỵ đớn đau kéo dài hàng tháng, nhưng chả bao giờ mất vẻ tươi tắn lẫn tính hiếu kỳ đặc biệt.

Gốc gác của nó chẳng gây chú ý nhiều như tật nguyền khập khiễng từ bệnh bại liệt thuở nhỏ.

Adamson dạy con trai không nên xem mình khác thường. Bà yêu cầu người dạy mẫu giáo đừng bao giờ hạn chế nó. Nhờ vậy, chẳng gì ngạc nhiên khi Todd đã đi giày lăn năm lên 7, hay trượt ào ào trên những đồi tuyết ở tuổi thiếu niên.

Tại Arizona, Todd đã được nhận làm con nuôi của chồng sau bà Adamson, ông David. Năm lên 9, nó đã học nghề mộc, thú vui của người cha mới.

Khi Todd trở nên thanh niên trai trẻ, gia đình dời ngược về Pennsylvania, anh lại vặn vẹo với máy móc và đi vào nghề xây dựng, sửa sang nhà cửa.

Trong khi đó, cũng vạn dặm xa nơi chôn nhau cắt rốn, bé gái khác đã trưởng thành trong một gia đình đầm ấm.

o O o


Jennifer là con thứ năm trong sáu đứa của ông bà Emanuel "Manny" và Nancy Arias, nhưng là đứa con nuôi duy nhất.

Nó đến Mỹ khi chỉ được một tuổi. Tên lúc đó là Phương Hồng Lan, đầu đầy tóc đen. Cha mẹ đều là người Việt, nhưng mẹ nó đã qua đời khi nó mới lọt lòng.

Một người bế bé xuống máy bay và nói, "Đây này, nó đã khóc suốt 20 giờ đấy," Bà Nancy Arias cười nói, "Người đàn bà đó biến mất, và chúng tôi chẳng bao giờ gặp lại bà ấy lần nữa."

Gia đình bà phải nghỉ ăn tại sân bay New York, tặng đứa bé một cái bong bóng và mang nó về nhà một cách êm thấm.

Nó luôn luôn dễ dàng như vậy.

Jennifer trưởng thành tại Virginia Beach. Cô ta là một học sinh giỏi, vượt qua những môn học khó khăn tại trường trung học tư thục Norfolk. Cô còn là một vận động viên thể dục dụng cụ đầy năng lực.

Mẹ cô ý thức được những câu hỏi gì cô sẽ hỏi một ngày nào đó.

Khi Jennifer lớn hơn, cô nóng lòng tìm hiểu về quá khứ.

Tại đại học Mary Baldwin ở Staunton, cô quyết định theo chuyên khoa Á học và phụ khoa Nhật ngữ. "Đó là ngôn ngữ châu Á duy nhất dạy tại đây," cô nói.

Sau khi tốt nghiệp năm 1995, cô tìm thấy một chuyến du lịch hướng dẫn về Việt Nam.

"Tôi muốn tìm xem có gì, bất cứ tài liệu nào về tôi," cô nói.

Mẹ cô theo cùng. Quả là một chuyến đi thú vị.

Jennifer thấy những đồi núi đầy rừng, ruộng mương ngập nước, phố phường tấp nập ồn ào với xe đạp xe máy. Chợ vỉa hè bán đủ thứ rau quả, vải vóc, cá tôm ngoài trời. Mẹ con cô ăn, uống, và hòa mình vào lối sống đó.

Một bữa ăn tối, Jennifer biết được trại mồ côi cũ vẫn còn tồn tại. Cô liền viết địa chỉ xuống. "Chúng tôi đến bệnh viện Từ Dũ, và việc đó hết sức xúc động," Nancy Arias nói.

Khi Jennifer hỏi có ghi chép gì về cô lúc mới sinh, thì được bảo không. Giấy tờ hiển nhiên đã bị thất lạc hoặc tiêu hủy trong chiến tranh.

Thế nhưng, giờ cô nói, chính đó cũng là câu trả lời chính đáng sau cùng. "Tôi rất thích có một tấm hình của cha mẹ tôi và để biết họ nhìn ra sao," cô nói. "Nhưng có lần một người bảo tôi cứ nhìn vào gương sẽ thấy."

Cô cảm tạ những nữ tu đã săn sóc cô, và sung sướng cho họ biết cô rất bằng lòng với cuộc sống hiện tại.

Cô đã tìm được sự bình an trong thâm tâm.

Một ngày nhiều năm sau đó tại Pennsylvania, Marilyn Adamson đi lấy thư.

"Những người láng giềng kế bên có nhận nuôi một bé Đại Hàn, và báo của họ bị lạc sang đây," bà nói. "Chúng tôi chẳng bao giờ lấy thư của họ trước đấy. Tôi thấy một bài viết về chuyến hội ngộ của trẻ mồ côi Việt Nam và nghĩ thầm, lý thú đấy."




Dịch vụ Nhi đồng Thế giới Holt, hoạt động trên 15 quốc gia, tổ chức những chuyến hồi hương hàng tháng đã hơn 25 năm. Mục đích là để giúp con nuôi trưởng thành tìm hiểu thêm về văn hóa quê hương và hoàn cảnh xưa đưa đẩy.

Kỳ đi này cũng kỷ niệm 25 năm chuyến bay nhân đạo tháng Tư 1975, trước khi Sài Gòn sụp đổ, đã mang 2,700 trẻ em tới Mỹ. Chuyến đi bao gồm khoảng hơn 10 cựu cô nhi, du hành trong hai tuần dọc suốt Việt Nam.

Adamson nghĩ Todd, hoặc Lisa, có thể hứng thú theo cùng.

Todd không chắc chắn lắm.

"Gia đình hối thúc tôi đi," Todd nói. "Nhưng tôi cảm thấy tự hiểu biết mình rồi. Cha mẹ là cha mẹ tôi. Tôi rất hài lòng với bản thân, gốc gác và song thân đã nuôi dưỡng tôi."

Khi Todd cuối cùng chấp thuận, chuyến đi đã đầy người. Nhưng một nhân viên của Holt đã nhường chỗ cho anh.

Bạn Todd chọc ghẹo trước khi anh đi.

"Họ nói tôi sẽ về đó cưới vợ."

Cùng thời gian đó, tại Virginia Beach, gia đình Arias nhận được thêm một trong nhiều bản tin của dịch vụ Holt, nơi đã sắp xếp việc nhận nuôi con gái họ. Trong đó có tin về chuyến đi vào tháng Tư 2000.

Mong mỏi muốn về thăm Việt Nam lần nữa, Jennifer quyết định tham gia. "Đừng trở lại với một tấm chồng." Cha cô đùa.

Jennifer bay ngang nội địa và chợt cảm thấy sợ hãi tại phi trường quốc tế Los Angeles.

"Con không thể," cô ta than thở trong cú điện thoại về nhà. "Mệt quá à! Con không thể tiếp tục."

"Nó sợ chết đi được," mẹ cô hồi tưởng. "Sự việc thật lớn lao. Ở chung với cả nhóm người lạ lẫm này, cộng với niềm xúc cảm hồi hương nữa."

Chốc lát sau đó, Jennifer bước vào phòng đợi phi trường, nhìn thấy 11 người khác cùng chuyến, và bắt đầu trấn tĩnh.

Qua dung mạo họ, cô nhìn thấy chính mình.

Họ cùng đi với những câu hỏi giống nhau: Tôi từ đâu đến? Cha mẹ tôi là ai?

Cả nhóm xuống sân bay tại Sài Gòn, rồi du hành về đồng bằng sông Cửu Long, Vũng Tàu và Bình Dương, tới thăm những thú điểm và cô nhi viện.

Những người khác bắt đầu chú ý tới giao cảm giữa Jennifer và Todd.

Anh ta đổi chỗ ngồi sau sang cạnh cô trên xe buýt. Rồi anh mạnh dạn hỏi Jennifer đi thử xe máy. Sau đó, họ bách bộ dọc bờ sông trên đường về khách sạn và kể cho nhau những chuyện tuổi thơ.

Vào những buổi tối, Todd mời Jennifer đi ăn, rồi dạo mát. Chuyến tham quan đưa họ đi thuyền, tới chùa chiền, chợ búa.

Anh trông cô ôm ấp những hài nhi tại trại mồ côi. Thấy cô hôn hít, đưa đẩy chúng, và thủ thỉ rằng cô muốn mang chúng về nhà.

Trong chuyến thăm cô nhi viện Linh Tâm ngoài Đà Nẳng, Todd mới có thể tự đọc được những dòng chữ ghi lại lúc anh được mang đến đấy. Anh chụp hình trang đó. Không còn tài liệu nào khác sót lại.

Trở về Hoa Kỳ, những cú điện thoại bắt đầu gọi tới.

"Tôi biết khoảng năm cú điện thoại từ Todd," bà Marilyn Adamson nói, "có khoảng 400 đô điện thoại phí tôi chưa cho cha nó biết, và luôn luôn là Jen này Jen nọ, Jen, Jen, Jen.''

Điện thoại reo tại gia đình Arias.

"Nó nói, 'con đã gặp được một người. Và con biết việc đó hết sức đặc biệt,' " Bà Nancy Arias nói. "Tôi cũng cảm thấy vậy."

Cả nhóm rời Hà Nội ngày 27 tháng Tư. Rồi có một buổi họp mặt nữa tại Baltimore và Washington D.C. Ra về, Todd hỏi Jennifer xem cô muốn tiếp tục hò hẹn với anh không. Cô đồng ý.

Trong chín tháng, họ mài mòn xa lộ giữa Virginia Beach và Harleysville, Pa. Giáng Sinh vừa qua, Todd hỏi xin cha của Jennifer cho phép anh cưới Jennifer.

Nancy Arias khóc ròng sung sướng. Chồng bà chúc mừng chàng rễ tương lai.

Todd di chuyển về vùng biển, nơi anh hiện đi lại phố Ghent sửa nhà. Jennifer làm việc điều hành hàng hóa trong hệ thống Navy Exchange. Bấy giờ anh chàng đã 31 tuổi, và nàng 28.

Ngày 3 tháng 11, họ làm lễ cưới tại nhà thờ Thiên Chúa Hải Tinh. Nancy Arias nhận lãnh vai trò thân mẫu cô dâu.

Hơn 200 khách khứa, bao gồm hầu hết những người trong chuyến hội ngộ, đến tham dự và chứng kiến một chương kế tiếp trong câu chuyện cổ tích đang sang trang trước mắt. Một người kể cho mẹ Jennifer rằng cô ấy thấy nước mắt rơi nhiều hơn cả đám tang.

Lễ cưới phô trương một bữa tiệc cá Nhật và bánh cuốn Việt Nam. Mọi người cùng ăn bằng đũa cưới Tàu.

Sau tuần trăng mật, đôi tân hôn về sống trong một căn nhà trang trí với nhiều dáng vẻ Á châu - tấm bình phong xếp, đèn lồng bằng kính sương, và những bức họa Việt Nam.

Phía trên lò sưởi treo món quà đóng khung của vị nữ tu cô nhi viện. Đó là một mảnh lụa thêu với đôi thiên nga trắng quấn quít bên nhau, là lượn dưới những lá trúc cong vút. Ở trên thêu một câu chúc bằng tiếng Việt:

"Trăm Năm Hạnh Phúc."

Một ngày nào đó, Todd và Jennifer nói, họ hy vọng sẽ có hai đứa con chung, rồi xin nuôi thêm một đứa nữa. Có thể một bé gái từ Trung Quốc.

Chuyến du hành đã nối vòng tay họ. Cơ duyên? Tiền định? Hay bàn tay Thượng Đế?

Dù sao đi nữa, chuyện đã xảy ra rồi.

Và trong việc gặp gỡ nhau, Jennifer và Todd đã tìm được quá khứ.

Anh Vũ
Tháng 12/2002